A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG: ĐỘNG LỰC CỦA MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI

 Nâng cao năng suất lao động là yêu cầu then chốt để Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động sang phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Vấn đề đặt ra không chỉ là làm ra nhiều sản phẩm hơn, mà còn phải tạo ra giá trị cao hơn, nâng cao thu nhập và bảo đảm phát triển bền vững.

 

Tại Nhà máy Công ty Toyota Boshoku Hà Nội, các dây chuyền sản xuất vận hành liên tục, người lao động vào ca với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc. Ảnh: Minh Nghĩa/TTXVN

 

Năng suất lao động và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới

Năng suất lao động phản ánh hiệu quả sử dụng lao động trong quá trình tạo ra sản phẩm và giá trị kinh tế. Ở phạm vi nền kinh tế, đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng tăng trưởng, trình độ tổ chức sản xuất và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ.

Đối với Việt Nam, sau nhiều thập niên đổi mới và hội nhập quốc tế, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cần gắn chặt hơn với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Khi những lợi thế dựa trên lao động chi phí thấp và khai thác các nguồn lực truyền thống dần thu hẹp, năng suất lao động càng trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với triển vọng phát triển dài hạn.

Theo Cục Thống kê, tốc độ tăng năng suất lao động năm 2025 ước đạt 6,83%, vượt mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ. Đây là kết quả tích cực, phản ánh những chuyển biến trong hoạt động kinh tế và trình độ của người lao động.

Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng năng suất trong một năm chưa đủ để bảo đảm sự chuyển biến bền vững về chất lượng phát triển. Điều quan trọng hơn là duy trì được xu hướng cải thiện năng suất trong dài hạn, đồng thời thu hẹp những hạn chế về công nghệ, kỹ năng lao động và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ

Một trong những thách thức đối với việc nâng cao năng suất lao động là sự chênh lệch về trình độ công nghệ, quản trị và chất lượng nhân lực giữa các ngành, lĩnh vực và khu vực doanh nghiệp.

Ở những doanh nghiệp có khả năng đầu tư công nghệ, tổ chức sản xuất hiện đại và tham gia sâu vào chuỗi giá trị, điều kiện cải thiện năng suất thường thuận lợi hơn. Trong khi đó, nhiều cơ sở sản xuất nhỏ vẫn gặp khó khăn về vốn, thiết bị, nhân lực và khả năng tiếp cận công nghệ.

Chất lượng nguồn nhân lực cũng là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Theo số liệu của Cục Thống kê, trong chín tháng năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,9%. Chỉ tiêu này tiếp tục cải thiện, nhưng đồng thời cho thấy yêu cầu lớn về nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số và khả năng thích ứng của người lao động trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ.

Bên cạnh đó, năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào sự cố gắng của từng cá nhân. Một người lao động có kỹ năng tốt vẫn khó phát huy đầy đủ năng lực nếu phải làm việc với thiết bị lạc hậu, quy trình thiếu hợp lý hoặc môi trường quản trị kém hiệu quả.

Vì vậy, không thể đồng nhất nâng cao năng suất với việc tăng cường độ lao động hay kéo dài thời gian làm việc. Bản chất của nâng cao năng suất là tạo ra nhiều giá trị hơn nhờ tổ chức sản xuất khoa học, công nghệ phù hợp, kỹ năng tốt hơn và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải tạo ra giá trị thực chất

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một trong những đột phá quan trọng hàng đầu. Định hướng này tạo cơ sở chính sách để thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

Đối với doanh nghiệp, đổi mới công nghệ cần được đánh giá trước hết bằng hiệu quả thực tế: giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, rút ngắn thời gian xử lý công việc, cải thiện điều kiện lao động và tăng khả năng cạnh tranh.

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và các công nghệ số mở ra nhiều cơ hội cải thiện năng suất. Tuy nhiên, đầu tư công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với đổi mới phương thức quản trị, đào tạo nhân lực và tổ chức lại quy trình sản xuất.

Cùng với việc khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ công và giảm những chi phí không cần thiết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Một nền kinh tế có năng suất cao không chỉ cần những doanh nghiệp hiện đại, mà còn cần một môi trường thể chế giúp các nguồn lực được phân bổ hiệu quả và các sáng kiến có điều kiện chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị.

Đặt con người ở trung tâm của quá trình nâng cao năng suất

Nâng cao năng suất lao động phải gắn với nâng cao chất lượng việc làm và đời sống của người lao động.

Theo Cục Thống kê, trong chín tháng năm 2026, cả nước có khoảng 52,7 triệu người có việc làm; thu nhập bình quân tháng của người lao động đạt khoảng 9,1 triệu đồng, tăng so với cùng kỳ năm trước. Những kết quả này là cơ sở quan trọng để tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, việc làm và cải thiện đời sống.

Tuy nhiên, tăng năng suất và tăng thu nhập không phải lúc nào cũng diễn ra đồng đều giữa các nhóm lao động. Do đó, chính sách phát triển cần quan tâm đến khả năng tiếp cận đào tạo, cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, điều kiện làm việc và hệ thống an sinh xã hội.

Đặc biệt, trước sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cần trở thành nhiệm vụ thường xuyên. Người lao động phải có điều kiện thích ứng với những công việc mới, thay vì bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi công nghệ.

Xét đến cùng, năng suất lao động không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Những thành quả từ cải thiện năng suất cần được chuyển hóa thành chất lượng cuộc sống tốt hơn, cơ hội phát triển công bằng hơn và nền tảng vững chắc hơn cho tiến bộ xã hội.

Phát huy hợp tác quốc tế và hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác về khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo và quản trị có ý nghĩa thiết thực đối với việc nâng cao năng suất lao động.

Việt Nam có thể tận dụng các cơ chế hợp tác quốc tế để tiếp cận tri thức, kinh nghiệm quản trị, phương pháp đào tạo và những mô hình sản xuất hiệu quả. Song song với việc tiếp thu kinh nghiệm bên ngoài, cần chú trọng phát triển năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ trong nước.

Đối ngoại nhân dân, với vai trò kết nối các tổ chức, chuyên gia và cộng đồng quốc tế, cũng có thể góp phần thúc đẩy trao đổi tri thức, chia sẻ kinh nghiệm phát triển và mở rộng những cơ hội hợp tác thiết thực.

Đối với mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao năng suất còn phải gắn với sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường và chuyển đổi xanh. Một mô hình sản xuất tạo ra giá trị kinh tế cao nhưng tiêu hao quá nhiều tài nguyên hoặc gây tổn hại môi trường khó có thể được coi là hiệu quả về lâu dài.

Nâng cao năng suất lao động vì thế cần được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng trước những biến động toàn cầu.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, đội ngũ nghiên cứu và người lao động. Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao và thành quả phát triển được chia sẻ rộng rãi, năng suất lao động mới có thể tạo nền tảng vững chắc cho một nền kinh tế tự chủ, có sức cạnh tranh và phát triển bền vững.

ThS. Nguyễn Mạnh Hiền, Wesite VPDC


Nguồn tài liệu tham khảo

  1. Cục Thống kê, Một số nét chính tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025, tháng 1/2026.

  2. Cục Thống kê, Một số nét chính tình hình kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng năm 2026, tháng 10/2026.

  3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024.

  4. Chính phủ, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026, cập nhật chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.